Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản vô cùng quý báu, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, quan điểm xuyên suốt và nhất quán về đoàn kết quốc tế được thể hiện trong cả tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn, đặc biệt rất rõ trong Di chúc của Bác, đã trở thành kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, đối ngoại nhân dân thực chất là công tác dân vận, vận động các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước đồng tình, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đối ngoại nhân dân là công tác dân vận, vận động các tầng lớp nhân dân ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận hợp thành của công tác đối ngoại chung, phối hợp và phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao Nhà nước cùng thực hiện nhiệm vụ, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đối ngoại nhân dân là quan hệ giữa con người với con người, có sự linh hoạt, tiếng nói khách quan, do vậy có những lợi thế nhất định so với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước trên một số vấn đề, ở một số nước, khu vực và trong một số hoàn cảnh, thời điểm cụ thể. Lực lượng đối ngoại nhân dân rất rộng rãi, bao gồm cả các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức nhân dân, các hội nghề nghiệp, và các cá nhân. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội chuyên trách, tập hợp các tổ chức hòa bình, đoàn kết hữu nghị, đóng vai trò nòng cốt của đối ngoại nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân là sự kết tinh của những thành tố sau: Bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, truyền thống ngoại giao của ông cha ta. Đó là truyền thống yêu nước, hoà bình, hoà hiếu, nhân nghĩa, vị tha. Đó là tư tưởng ngoại giao tâm công, vì con người, vì chính nghĩa. Đó là nghệ thuật ngoại giao vừa thể hiện bản lĩnh kiên cường, vừa linh hoạt, khôn khéo “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong quan hệ quốc tế, trong hoạt động ngoại giao vì độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, vì hòa bình, hữu nghị, đoàn kết, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc trên thế giới. Tư tưởng và hoạt động thực tiễn đối ngoại của Người đã trở thành khoa học và nghệ thuật ngoại giao Việt Nam nói chung và đối ngoại nhân dân Việt Nam nói riêng.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân:

  1.Thêm bạn bớt thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phải “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”. Trong từng giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều phân rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, tránh đối phó với hai kẻ thù cùng một lúc, xác định kẻ thù chính để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng.

Người giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt  thực dân Pháp và đế quốc xâm lược Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ và đoàn kết của nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chính quyền của thực dân Pháp và chính quyền của đế quốc xâm lược Mỹ. Người khẳng định với nhân dân Pháp: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau”. Người nêu rõ nhân dân Việt Nam không chống Mỹ và chỉ muốn chiến tranh sớm chấm dứt để nhân dân hai nước giảm được mất mát, đau thương và sống hòa bình hữu nghị với nhau. Người đã nói với những người bạn Mỹ vào đầu năm 1964: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào chúng tôi phải gian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành”[1].

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân là đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân thế giới.

Gắn liền đoàn kết nhân dân trong nước với đoàn kết quốc tế chính là kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cao cả, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giải thích và thực hiện mối quan hệ thân thiện hữu nghị, bầu bạn với nhân dân các nước, “bốn phương vô sản đều là anh em”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công chủ trương “ba tầng mặt trận”: Mặt trận đoàn kết nhân dân trong nước, Mặt trận đoàn kết nhân dân Việt – Lào, Campuchia và Mặt trận đoàn kết nhân dân thế giới nhằm tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn của nhân dân ta để kháng chiến thắng lợi và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

  1. Kết hợp ngoại giao Nhà nước với công tác đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Trong thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền, công tác đối ngoại của Đảng và công tác đối ngoại nhân dân được kết hợp chặt chẽ với nhau. Tư tưởng Hồ Chí Minh là vận dụng đối ngoại nhân dân để gây dựng phong trào, tuyên truyền cho cách mạng, hỗ trợ cho đối ngoại của Đảng trong thời kỳ trứng nước. Từ khi có chính quyền, ba “binh chủng” đối ngoại chính thức được xây dựng, ngày càng củng cố và phát triển. Mỗi binh chủng này có đặc thù, thế mạnh và mũi tiến công riêng, nhưng kết hợp với nhau và hỗ trợ cho nhau một cách chặt chẽ, hài hòa, theo đó tùy hoàn cảnh, tình hình và đối tượng thích hợp mà công tác đối ngoại sẽ được tiến hành qua kênh nhà nước, Đảng hay nhân dân. Nhờ đó, công tác đối ngoại được thực hiện hiệu quả, đồng bộ và uyển chuyển nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn chú trọng thực hiện thống nhất sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước đối với công tác đối ngoại. Đối ngoại nhân dân phải tranh thủ được sự hỗ trợ của đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, tuân thủ triệt để sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý và hỗ trợ của chính quyền, đồng thời mở rộng và tăng cường liên kết, phối hợp giữa các ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội; tranh thủ sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, cá nhân và mọi tầng lớp nhân dân để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân. Ngày nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta thực hiện nhất quán chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá, giữa ngoại giao với quốc phòng và an ninh, giữa các trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Việt Nam.

  1. Luôn luôn coi trọng, phát huy vai trò và lợi thế của công tác đối ngoại nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu hoạt động đối ngoại bằng hoạt động đối ngoại nhân dân và đã chỉ đạo, trực tiếp tham gia công tác đối ngoại nhân dân trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước, sau khi có Đảng và Nhà nước độc lập. Người cho rằng, quan hệ nhân dân với nhân dân luôn là cơ sở cho mối quan hệ giữa nước ta với các nước, là mối quan hệ bền vững và lâu dài, dù thái độ của chính phủ nước ta có quan hệ thay đổi thế nào thì quan hệ nhân dân ta với nhân dân nước đó vẫn không phai nhạt hay mất đi.

Công tác đối ngoại nhân dân có sức mạnh của nhân dân làm hậu thuẫn cho nên có lợi thế đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, ngoại giao phải có thực lực và phải biểu dương lực lượng, chính là nói đến sức mạnh của nhân dân trong công tác đối ngoại. Lợi thế của đối ngoại nhân dân ở chỗ có thể sử dụng cả lý lẽ và tình cảm để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế; vận động dư luận nhân dân ta và nhân dân các nước lên tiếng phản đối các âm mưu, hành động thù địch của các thế lực bên ngoài. Sử dụng sức mạnh của nhân dân, công tác đối ngoại nhân dân có tiếng nói và hành động mà công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước không có điều kiện làm, như khi bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân một số nước, phản đối lên án những hành động thù địch hoặc không thân thiện đối với nhân dân ta và nhân dân một số nước khác. Tiếng nói của nhân dân ta và nhân dân các nước trong đấu tranh dư luận có sức mạnh và tác động to lớn.

Công tác đối ngoại nhân dân thể hiện được rõ và đầy đủ tính chất ngoại giao hòa bình, hữu nghị, hợp tác, chính nghĩa chống phi nghĩa, nhân nghĩa chống bạo tàn, dùng tiếng nói có lý có tình, phong cách giản dị và lịch thiệp dễ đi vào lòng người để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ và đồng tình của nhân dân các nước đối với nhân dân ta, giới thiệu và vận động làm cho nhân dân ta và nhân dân các nước hiểu biết lẫn nhau, xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác.

  1. Nội dung hoạt động phong phú, hình thức đa dạng và linh hoạt đồng thời đa dạng hóa quan hệ đối tác.

Công tác đối ngoại nhân dân và vận động quốc tế do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo trực tiếp có nội dung đặc biệt phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ: làm rõ chính nghĩa, chống phi nghĩa, lấy nhân nghĩa chống bạo tàn, kêu gọi hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau…

Hình thức hoạt động đối ngoại nhân dân cũng rất đa dạng: nói chuyện, viết báo, viết sách, tiếp xúc vận động cá nhân và tổ chức, trình bày quan điểm ở các diễn đàn của nước đối tác và diễn đàn quốc tế, họp mặt, liên hoan hữu nghị, hội thảo, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, trao đổi khoa học – kỹ thuật, hợp tác về giáo dục, vận động viện trợ nhân đạo và phát triển.

Công tác đối ngoại nhân dân luôn mở rộng đối tác vận động và quan hệ từ các cá nhân thuộc các tầng lớp, nghề nghiệp, khuynh hướng chính trị khác nhau đến các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ…; duy trì, củng cố quan hệ với bạn bè , đồng thời tìm kiếm, thiết lập quan hệ với các đối tác mới.

Trong tình hình mới, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả” để đổi mới phương thức và nội dung hoạt động đối ngoại nhân dân, không rập khuôn, hình thức mà cần linh hoạt, đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng, thể hiện được phẩm chất tốt đẹp và bản sắc văn hóa của người Việt Nam, xây dựng được quan hệ giữa con người và con người, chân thành cởi mở và thẳng thắn, xây dựng được thiện cảm và tạo được niềm tin. Cần đa phương hóa quan hệ đối ngoại nhân dân, mở rộng hoạt động ở các địa bàn, đồng thời tập trung vào các địa bàn trọng điểm. Đa dạng hóa quan hệ nhân dân, gắn kết các hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác thông qua ủng hộ lẫn nhau về chính trị, giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch hữu nghị, giúp đỡ nhau về vật chất (viện trợ nhân dân), trao đổi khoa học công nghệ, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đào tạo cán bộ để nâng cao hiệu quả thực chất của đối ngoại nhân dân.

  1. Tập hợp lực lượng rộng rãi tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, công tác đối ngoại nhân dân do nhiều lực lượng rộng rãi tham gia, bao gồm không chỉ các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức văn hóa, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, các hội nghề nghiệp và rộng ra là nhân dân, mà còn cả các tổ chức của Đảng và các cơ quan nhà nước các cấp ngành, các lực lượng vũ trang (tiến hành với đối tượng và hình thức thích hợp). Đồng thời, có những tổ chức chính trị – xã hội được thành lập để chuyên trách hoạt động đối ngoại nhân dân trong các lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, viện trợ nhân dân như Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập Hội Việt – Mỹ thân hữu và đề cử hai đồng chí Tạ Quang Bửu và Võ Nguyên Giáp lấy danh nghĩa Hội Việt – Mỹ thân hữu ngày 31/8/1945 tiếp đoàn của Cục phục vụ chiến lược của Mỹ ở Côn Minh đến Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã cho thành lập Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy ban đoàn kết nhân dân Á-Phi, Hội quốc tế ngữ bảo vệ hòa bình, các hội hữu nghị và Ủy ban đoàn kết song phương với nhân dân nhiều nước để tập hợp đông đảo quần chúng tham gia công tác đối ngoại nhân dân.

Khẳng định đối ngoại nhân dân là phương tiện chủ yếu và vô cùng quan trọng để tiếp cận thế giới nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào mình bằng những hoạt động khôn khéo để chinh phục nhân dân các nước, trước hết là đối xử văn minh với công dân của các nước đế quốc đang sống và làm việc ở nước ta, để nhờ đó nhân dân nước họ và nhân dân thế giới hiểu rõ Việt Nam, có tình cảm với Việt Nam. Không chỉ quan tâm định hướng cho đồng bào ở trong nước mà cho cả đồng bào ở nước ngoài để tạo ra phong trào nhân dân làm đối ngoại, để mọi người Việt Nam dù ở đâu cũng tham gia mặt trận đối ngoại với mục đích nâng cao vị thế của dân tộc mình. Hồ Chí Minh căn dặn: “Kiều bào ở nước ngoài phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, luôn luôn một lòng ủng hộ Tổ quốc, mở rộng tình thân thiện giữa nhân dân ta và nhân dân các nước”. Phải chan hòa, gắn bó với họ theo tinh thần “bán bà con xa mua láng giềng gần” để thuyết phục họ, cảm hóa họ.

Công tác đối ngoại nhân dân cần chú ý thu hút, huy động quần chúng tham gia, đảm bảo tính quần chúng trong các hoạt động, tránh câu nệ hình thức quan liêu, hành chính. Muốn vậy, các hoạt động đối ngoại nhân dân cần tăng cường triển khai tại cấp cơ sở, địa phương, nơi tập hợp đông đảo nhân dân – đối tượng và cũng là chủ thể của công tác này. Và một điều quan trọng là các hoạt động đối ngoại nhân dân phải có những hình thức hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của quần chúng để cuốn hút quần chúng tham gia.

Có thể nói, đối ngoại nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện là một hoạt động cách mạng có sự thống nhất với mọi hoạt động cách mạng khác ở tư tưởng chủ đạo nhất quán của Người là chủ nghĩa yêu nước, có mục tiêu bất di bất dịch là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với tinh thần lấy dân làm gốc, mọi xuất phát đều bắt đầu từ dân, do dân, vì dân. Cả về lý luận và thực tiễn, đối ngoại nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm sáng rõ bản chất cách mạng và khoa học. Đó chính là nền tảng tư tưởng của đối ngoại nhân dân mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo trong hành động.

(Theo sách: “Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam – Quá trình hình thành và phát triển”)

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t12, tr 271.

Thanh Môn